Cách xử lý nước thải sinh hoạt

Bách Khoa – Cách xử lý nước thải sinh hoạt cần phải đúng tiêu chuẩn, đúng thành phần các chất lơ lửng trong nước mới có thể bảo vệ được môi trường. 

Cách xử lý nước thải sinh hoạt bảo vệ môi trường

Nước thải sinh hoạt được sinh ra từ các hoạt động khác nhau của cộng đồng cư dân như khu chung cư, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, cơ quan công sở,….

Do đó, thành phần cách chất độc hại ở những nơi khác nhau sẽ hoàn toàn khác nhau. Đặc tính của những chất này có thể không tan trong nước, tan ít hay tan hoàn toàn trong môi trường nước. Chính điều này đòi hỏi việc xử lý phải chọn lựa phương pháp thích hợp căn cứ vào đặc điểm của các loại tạp chất tồn tại trong nước thải.

Nguyên tắc lưa chọn công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt hoàn toàn phụ thuộc vào các yếu tố sau:

  • Thành phần cùng tính chất nước thải
  • Lưu lượng cùng chế độ xả thải
  • Mức độ cần thiết để xử lý nước thải
  • Đặc điểm của nguồn tiếp nhận
  • Điều kiện địa chất thuỷ văn và khí hậu tại khu vực dự kiến xây dựng
  • Điều kiện vận hành cùng quản lý hệ thống xử lý nước thải
  • Điều kiện cơ sở hạ tầng, bao gồm: cấp điện, cấp nước, giao thông

Thông thường sẽ có 3 các xử lý nước thải phổ biến là:

  1. Phương pháp xử lý hóa học
  2. Phương pháp xử lý hóa sinh
  3. Phương pháp xử lý sinh học

Tùy vào mục đích làm sạch nước để có thể đưa nước vào nguồn tiếp nhận hay đưa vào tái sử dụng mà sẽ áp dụng các biện pháp xử lý khác nhau.

Cách xử lý nước thải sinh hoạt

Công ty Bách Khoa

Thuyết minh công nghệ xử lý sinh hoạt

Nước thải phát sinh theo hệ thống thoát nước dẫn đến bể gom của hệ thống xử lý nước thải.

Bể tiếp nhận được thiết kế đảm bảo thu gom toàn bộ lượng nước thải phát sinh. Trong bể có lắp đặt thiết bị tách rác thô nhằm loại ra bỏ tất cả các loại rác thô có trong nước thải có thể gây tắc nghẽn đường ống làm hư hại máy bơm và làm giảm hiệu quả xử lý của giai đoạn sau. Nước thải từ bể tiếp nhận sẽ được bơm lên bể điều hòa.

Trước khi vào bể điều hòa, nước thải sẽ qua thiết bị tách rác tinh (với kích thước khe hở 2mm) để loại bỏ các tạp chất, rác có kích thước nhỏ. Các loại rác nhỏ này sẽ ảnh hưởng đến bơm cũng như hệ vi sinh phía sau nếu không được loại bỏ ra khỏi nước thải.

Bể tách mỡ có nhiệm vụ loại bỏ dầu, mỡ có trong nước thải trước khi qua các công trình xử lý tiếp theo. Sau khi tách mỡ nước thải được dẫn tới bể điều hòa bằng cơ chế tự chảy

Bể điều hòa có nhiệm vụ điều hòa về lưu lượng và nồng độ trong nước thải tránh gây hiện tượng quá tải vào các giờ cao điểm cũng như thời gian mà lượng nước gia tăng đột ngột. Do đó giúp cho hệ thống làm việc ổn định, cải thiện hiệu quả và giảm kích thước, giá thành cho những công trình đơn vị phía sau. Nhờ vào hệ thống sục khí, nước thải được xáo trộn đều và tránh sự lắng cặn trong bể, tránh hiện tượng phân hủy kị khí tạo mùi hôi. Nước thải từ bể điều hòa sẽ được bơm đến công trình xử lý tiếp theo là bể anoxic.

Bể anoxic là nơi tiếp nhận nước thải từ bể điều hòa và dòng dung dịch xáo trộn (bùn hoạt tính + nước thải) từ bể sinh học hiếu khí tuần hoàn. Với môi trường thiếu khí, quá trình phân huỷ hợp chất hữu cơ và khử Nitrat diễn ra nhờ các vi sinh vật sử dụng Nitrat, Nitrite làm chất oxy hóa để sản xuất năng lượng. Trong bể Anoxic, quá trình khử Nitrat sẽ diễn ra theo phản ứng:

6NO3 + 5CH3OH à 5CO2 + 3N2 + 7H2O + 6OH

Trong bể thiếu khí có lắp đặt thiết bị khuấy chìm nhằm tạo ra sự xáo trộn trong bể giúp bọt khí N2 (từ quá trình khử Nitrat) dễ dàng thoát lên khỏi mặt nước. Bể thiếu khí còn đóng vai trò là một hệ chọn lọc vi sinh hiếu khí để chống lại hiện tượng bùn nổi do vi khuẩn dạng sợi gây ra. Sau đó hỗn hợp bùn nước thải từ bể thiếu khí tiếp tục qua bể sinh học hiếu khí để khử các hợp chất hữu cơ COD, BOD5.

Bể sinh học hiếu khí: nơi diễn ra quá trình phân huỷ hợp chất hữu cơ và quá trình Nitrat hoá trong điều kiện cấp khí nhân tạo bằng máy thổi khí. Lượng khí cung cấp vào bể với mục đích: cung cấp oxy cho vi sinh vật hiếu khí chuyển hóa chất hữu cơ hòa tan thành nước và CO2, nitơ hữu cơ thành ammonia thành nitrat NO3; xáo trộn đều nước thải và bùn hoạt tính tạo điều kiện để vi sinh vật tiếp xúc tốt với các cơ chất cần xử lý; giải phóng các khí ức chế quá trình sống của vi sinh vật, Các khí này sinh ra trong quá trình vi sinh vật phân giải các chất ô nhiễm; tác động tích cực đến quá trình sinh sản của vi sinh vật.

  • Quá trình phân hủy hợp chất hữu cơ:

Trong bể sinh học các vi sinh vật (VSV) hiếu khí sử dụng oxi được cung cấp chuyển hóa các chất hữu cơ hòa tan trong nước thải một phần thành vi sinh vật mới, một phần thành khí CO2 và NH3 bằng phương trình phản ứng sau:

VSV + C5H7NO2 (chất hữu cơ) + 5O2 → 5CO2 + 2H2O + NH3 + VSV mới

  • Quá trình nitrate hóa:

Quá trình Nitrate hóa là quá trình oxy hóa các hợp chất chứa Nitơ, đầu tiên là Ammonia thành Nitrite sau đó oxy hóa Nitrite thành Nitrate. Quá trình Nitrate hóa ammonia diễn ra theo 2 bước liên quan đến 2 loại vi sinh vật tự dưỡng NitrosomonasNitrobacter.

Bước 1: Ammonium được chuyển thành nitrite được thực hiện bởi Nitrosomonas:

NH4+ + 1.5 O2 → NO2 +  2 H+  +  H2O

Bước 2: Nitrite được chuyển thành nitrate được thực hiện bởi loài Nitrobacter:

NO2 + 0.5 O2 → NO3

Hỗn hợp bùn hoạt tính và nước thải gọi là dung dịch xáo trộn (mixed liquor). Trong bể sinh học hiếu khí còn được lắp đặt bơm bùn tuần hoàn để tuần hoàn hỗn hợp bùn + nước thải chứa nitrat và cơ chất về bể anoxic, tạo điều kiện cho quá trình khử nitrate xử lý để nitơ, còn lại sẽ tự chảy đến bể lắng bùn sinh học.

Bể lắng bùn sinh học có nhiệm vụ lắng và tách bùn hoạt tính ra khỏi nước thải, làm giảm SS được thiết kế đặc biệt tạo môi trường tĩnh cho bông bùn lắng xuống đáy bể. Tại bể lắng, nước thải đi từ dưới lên trên qua ống trung tâm, bùn sẽ lắng xuống và được gom vào đáy bể. Bùn sau khi lắng có hàm lượng SS = 8000-12000mg/L, một phần sẽ bơm tuần hoàn trở lại bể sinh học hiếu khí (60-70% lưu lượng) để giữ ổn định mật độ cao vi khuẩn, tạo điều kiện phân hủy nhanh chất hữu cơ, đồng thời ổn định nồng độ MLSS = 3000mg/L. Lưu lượng bùn dư thải ra mỗi ngày sẽ được bơm về bể nén bùn. Độ ẩm bùn hoạt tính dao động trong khoảng 98 – 99,5%.

Bể khử trùng: Nước thải sau khi tách bùn được châm Chlorine khử trùng trước khi xả ra nguồn tiếp nhận. Chlorine, chất oxy hóa mạnh thường được sử dụng rộng rãi trong quá trình khử trùng nước thải. Ngoài mục đích khử trùng, Chlorine còn có thể sử dụng để giảm mùi. Hàm lượng chlorine cần thiết để khử trùng cho nước sau lắng, 3-15mg/L. Hàm lượng chlorine cung cấp vào nước thải ổn định bằng bơm định lượng hóa chất.

Phần nước sau khi qua xử lý chảy ra nguồn tiếp nhận đạt tiêu chuẩn cột A – QCVN 14:2008/BTNMT.

Xử lý bùn:

Quá trình xử lý sinh học trong bể sinh học hiếu khí sẽ làm gia tăng liên tục lượng bùn vi sinh trong bể sinh học. Đồng thời lượng bùn ban đầu sau thời gian sinh trưởng phát triển sẽ giảm khả năng xử lý chất ô nhiễm trong nước thải và chết đi và lắng xuống đáy bể. Lượng bùn này còn gọi là bùn dư và được đưa về bể nén bùn.

Tại bể nén bùn, sau một thời gian nén cố định để gia tăng nồng độ và cô đặc, bùn sẽ được đưa vào máy ép bùn để tiến hành tách nước làm giảm độ ẩm và thể tích của bùn để thuận tiện cho quá trình xử lý bùn. Bùn khô sau khi ép tách nước sẽ được đơn vị có chức năng thu gom – vận chuyển đi xử lý đúng nơi quy định.

Nước tách bùn phát sinh từ bể nén bùn và máy ép bùn được đưa về bể gom.

Để xây dựng thành công một hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt vận hành ổn định, chi phí tiết kiệm nhất, hãy liên hệ ngay với CÔNG TY TNHH TM DV CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG BÁCH KHOA, chúng tôi sẽ hỗ trợ tư vấn đầy đủ và hiệu quả nhất.

Tin liên quan

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG BÁCH KHOA Design by iWeb247.vn - Thiết kế website chuyên nghiệp